Xác thực mật ong dựa vào khả năng kháng khuẩn (04/10/2020)

Xác thực mật ong dựa vào khả năng kháng khuẩn

CASE STUDY: Xác thực mật ong bạc hà và mật ong rừng dựa vào khả năng kháng khuẩn

CÁ NHÂN, TỔ CHỨC THAM GIA THỰC HIỆN

TS. Lê Quang Trung

Viện An toàn Thực phẩm, Công ty CP Chứng nhận và Giám định VinaCert

Địa chỉ: 130 Nguyễn Đức Cảnh, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Điện thoại: 0243.662.18291; Website: www.fsi.org.vn;

Fax         : 0243.633.1137 ;  Email : quangtrung@fsi.org.vn

TS, Trần Mỹ Linh, ThS. Nguyễn Chi Mai

Viện Hóa sinh Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Điện thoại: 024.37917053;   Website: http://www.imbc.vast.vn; Fax: 024.3791705;

Địa chỉ: A23, 18, Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội.

TS. Nguyễn Tường Vân

Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Điện thoại: 024 3836 25 99 - Fax:  024 38363144;   Website: https://www.ibt.ac.vn

Địa chỉ: A10, 18, Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội.

THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 2019-2020

TÓM TẮT MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Gần đây, mật ong rừng (MOR) được khai ở vùng núi phía bắc với sản lượng hàng chục tấn/năm với giá chỉ từ 150.000-200.000đ/kg. Màu sắc của MOR tương đối giống với sản phẩm chỉ dẫn địa lý cho mật ong bạc hà Cao nguyên Đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (MBH) có giá tới 400.000-500.000đ/kg. Nhằm ngăn chặn nguy cơ trộn lẫn MBH với MOR để đưa ra thị trường và thu lợi nhuận cao, người nuôi ong khai thác MBH yêu cầu xác thực MBH bằng phương pháp có chi phí thấp, phù hợp điều kiện các phòng thử nghiệm có qui mô nhỏ ở các tỉnh miền núi và trung du, gần nơi nuôi ong và khai thác mật ong. Trong nghiên cứu này, 03 mẫu MBH khai thác mùa mật 2019, 03 mẫu MOR khai thác năm 2020 và 03 mẫu mật trộn giữa MBH và MOR (1:1) được xác thực dựa vào các chỉ thị liên quan đến khả năng kháng khuẩn Staphylococcus aureus của mật ong. Các chỉ thị bao gồm chiều ngang vòng kháng khuẩn (D), các giá trị MIC, MBC và tỷ lệ MBC/MIC lần lượt được xác định bằng các phương pháp: Khuếch tán đĩa thạch, xác định nồng độ ức chế S. aureus tối thiểu và nồng độ kháng S. aureus tối thiểu. Chiều ngang D của MBH, MIX và MOR ở dải nồng độ 25%, 30% và 50% lần lượt từ 96,78-9,22mm, 3,39-6,60mm và 1,42-4,20mm với khác biệt tin cậy về thống kê (0,01<P<0,05) là các chỉ thị để xác thực 3 loại mật. Đồng thời, giá trị của MIC và MBC của MBH (3,125%) là chỉ thị để phân biệt với MOR, có giá trị MIC và MBC tới 6,250%. Tương tự, tỷ lệ MBC/MIC=2 của MIX cũng có thể áp dụng là chỉ thị để phân biệt với MBH và MOR, có tỷ lệ MBC/MIC=1.  

FSI

Share on Facebook   Share on Twitter Share on Google Share on Buzz
VIỆN AN TOÀN THỰC PHẨM (FOOD SAFETY INSTITUTE)

Địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà 130 Nguyễn Đức Cảnh, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội

Điện thoại: 0243.662.1891 - Fax: 0243.633.1137

Email: info@fsi.org.vn

| | |
Copyright © 2014 FSI - All Right Reserved.
Đang online:
37
Tổng truy cập:
3598996